45 năm ngày giải phóng Quảng Trị và 81 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thành Cổ

Thứ tư - 26/04/2017 03:26 4.129 0
Nhân kỷ niệm 45 năm Ngày giải phóng tỉnh Quảng Trị (01. 5 .1972 - 01. 5. 2017), 81 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị, BBT Web Công đoàn Quảng Trị trân trọng giới thiệu tài liệu tuyên truyền về “Cuộc tấn công và nổi dậy Xuân - Hè năm 1972” và “Cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị”.
Toàn cảnh Lễ kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng tỉnh Quảng Trị (1.5.1972 - 1.5.2012)
Toàn cảnh Lễ kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng tỉnh Quảng Trị (1.5.1972 - 1.5.2012)
I. Cuộc tấn công và nổi dậy Xuân - Hè năm 1972 giải phóng tỉnh Quảng Trị.
Thất bại nặng nề của địch trên các chiến trường 3 nước Đông Dương trong 2 năm 1970 - 1971: Mặt trận đường 9 - Nam Lào, Đông - Bắc Campuchia và vùng 3 biên giới có ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng đối với chúng ta. Tháng 8/1971, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Nghị quyết mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên các hướng Đông Nam Bộ, Trị - Thiên, Tây Nguyên. Sau khi phân tích, nhận định tình hình giữa ta và địch trên các chiến trường, tình hình quốc tế, Bộ Chính trị đã đề ra nhiệm vụ cho quân và dân ta là: “Kịp thời nắm lấy thời cơ lớn, trên cơ sở phương châm chiến lược đánh lâu dài, đẩy mạnh tấn công quân sự, chính trị, ngoại giao, phát triển chiến lược tiến công mới trên toàn chiến trường miền Nam… Đánh bại chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của Mỹ, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua, đồng thời sẵn sàng chuẩn bị, kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến trong trường hợp chiến tranh còn kéo dài”.

Cuộc tấn công và nổi dậy Xuân - Hè năm 1972 giải phóng tỉnh Quảng Trị
Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định lấy chiến trường Trị - Thiên làm hướng tấn công hết sức quan trọng. Quân uỷ Trung ương chỉ rõ: “Chiến dịch Trị - Thiên là một chiến dịch quy mô lớn, một chiến dịch hợp đồng binh chủng, chiến dịch tổng hợp cả quân sự và chính trị”.
Ngày 11/3/1972, sau khi soát xét lại kết quả chuẩn bị trên các chiến trường, Thường vụ Quân uỷ Trung ương ra Nghị quyết tiến hành cuộc tấn công chiến lược năm 1972. Trị  - Thiên được xác định “là hướng chiến lược chủ yếu nhằm tiêu diệt lớn quân địch và mở rộng vùng giải phóng, góp phần làm thay đổi lực lượng giữa ta và địch, thay đổi cục diện ở chiến trường miền Nam, đưa cuộc kháng chiến tiến lên một bước mới”. 
Quân uỷ Trung ương quyết định thành lập Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh chiến dịch Trị - Thiên 1972 (Bộ Tư lệnh 702). Chấp hành mệnh lệnh của Quân uỷ Trung ương, ngày 24/3/1972, Đảng uỷ Bộ Tư lệnh 702 đã vạch kế hoạch chiến dịch với quyết tâm trong khoảng 20 đến 25 ngày tấn công tiêu diệt cho được 4 đến 5 trung đoàn địch, phá vỡ tuyến phòng thủ, nhanh chống đột phá thọc sâu vào lực lượng địch, đánh tập trung, hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, thực hiện quần chúng nổi dậy giành chính quyền làm chủ, giải phóng Quảng Trị, sau đó tiếp tục phát triển vào hướng Thừa Thiên. Để đạt được quyết tâm trên, Bộ Tư lệnh mở các chiến dịch kế tiếp nhau, hướng chính là mặt trận Quảng Trị, hướng phối hợp là mặt trận Thừa Thiên.
Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ, sau khi nắm được tinh thần của chiến dịch tiến công chiến lược năm 1972, các địa phương, đơn vị khẩn trương chuẩn bị lực lượng hậu cần và địa bàn ứng chiến.
Bộ đội địa phương lúc này có hai tiểu đoàn, 6 đại đội bộ binh, 1 tiểu đoàn và 1 đại đội đặc công. Các huyện thị có 8 đội biệt động, 3 đội đặc công, 6 đại đội và 3 trung đội bộ binh, 2.600 dân quân du kích. Bộ đội chủ lực của Bộ Quốc phòng ở Quảng Trị trong chiến dịch này ban đầu có 4 sư đoàn bộ binh, 6 tiểu đoàn đặc công, 4 trung đoàn pháo xe kéo, 1 trung đoàn pháo mang vác, 2 đại đội tên lửa chống xe tăng, một số tiểu đoàn, đại đội pháo địa phương và 1 sư đoàn pháo phòng không. Trong đội hình chiến dịch có 2 sư đoàn pháo phòng không bảo vệ phía sau, 2 trung đoàn tên lửa, 10 đại đội và 7 tiểu đoàn cao xạ của các đơn vị bộ đội bộ binh, 7 chi đoàn thiết giáp với tổ số 214 chiếc, trung đoàn 126 hải quân và khu vực 5 hải quân.
Về phía địch, tính riêng ở Quảng Trị có 16 tiểu đoàn bộ binh, 7 chi đoàn thiết giáp, 7 tiểu đoàn pháo, 43 đại đội bảo an, 500 đội phòng vệ dân sự, 1 tiểu đoàn cảnh sát dã chiến. Tổng số quân của chúng khoảng 50.000 người, trong đó có 39.000 quân chủ lực. Địch tổ chức thành 5 khu vực phòng thủ cấp trung đoàn. Khu vực then chốt của sư đoàn 3 nguỵ là Đông Hà, Ái Tử, Sở chỉ huy, Bộ chỉ huy của sư đoàn 3 đặt tại Ái Tử.
Đến ngày 26-2-1972, mọi chuẩn bị cơ bản cho chiến dịch đã hoàn thành. Cục vận tải, đoàn 559 và đoàn vận tải quân khu 4 cùng hàng ngàn thanh niên xung phong, dân quân hoả tuyến của Quảng Bình, Vĩnh Linh đã có những cố gắng phi thường vận chuyển vượt cung “phá tuyến” chuyển hàng cho yêu cầu của chiến dịch. Sư đoàn 308 hành quân vào sau cũng đã có mặt ở bờ Bắc sông Bến Hải.
Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30/3/1972 lệnh tấn công được phát ra. Trận đánh mở màn là trận tập kích phía Nam khu vực điểm cao 322, 288, 166, cầu Thiện Xuân của tiểu đoàn 3 (trung đoàn 27). Bí mật, bất ngờ, cả mặt trận lao vào chiến dịch. Các cụm pháo của ta từ nhiều hướng, ở Vĩnh Linh, ở trận địa miền Tây… bắn mãnh liệt vào các cứ điểm 54, đồi Tròn, Đầu Mầu, Ba Hồ, Động Toàn, Quán Ngang, Nhĩ Trung, Dốc Miếu, Cồn Tiên… khiến toàn bộ hệ thống vòng ngoài của địch ở cửa ngõ phía Bắc bị xé toang, vành đai thép, “con mắt thần điện tử” Mắc Namra bị đập tan. Các cứ điểm Cồn  Tiên, Dốc Miếu, Quán Ngang, miếu Bái Sơn ở phái Bắc cùng một lúc bị san phẳng.
Ngày 01/4/1972 sư đoàn quân Tiên phong (308) từ Vĩnh Linh vượt sông Bến Hải theo điểm cao 161, 135 ra Bái Sơn tiến theo trục đường số 1 vào cầu Đông Hà, đánh sập cầu Đông Hà và chia thành 3 mũi: mũi thứ nhất đánh vào Đông Hà, mũi thứ 2 vượt cầu Đuồi theo đường 9 đánh vào điểm cao 30, mũi thứ 3 qua Quất Xá, Nghĩa Hy tiến xuống đông - nam uy hiếp phía Tây Đông Hà.
Sáng ngày 02-4-1972 ta tiến công căn cứ Tân Lâm, căn cứ Sở chỉ huy trung đoàn 56 ngụy. Khiếp đảm vì hoả lực pháo binh của ta và bị bao vây, bọn cố vấn Mỹ bỏ chạy, toàn bộ quân nguỵ trong căn cứ, gồm cả chỉ huy, cơ quan tham mưu trung đoàn, cùng một tiểu đoàn bộ binh và nhiều đơn vị trực thuộc do trung tá Trung đoàn trưởng Phạm Văn Đính, thiếu tá Trung đoàn phó Vĩnh Phong cầm đầu phải đầu hàng. Toàn bộ các vị trí địch trên bốn cánh cung Đông - Tây - Nam - Bắc được mệnh danh “lá chắn thép”, “Pháo đài bất khả xâm phạm” đã bị xoá sổ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là các tổ chức đảng địa phương, tiếng súng công đồn đến đâu là Nhân dân nhất tề đứng dậy diệt đồn, phá bốt cùng với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương truy kích địch, làm chủ quê hương. Ngày 2/4/1972 hai huyện Gio Linh, Cam Lộ hoàn toàn giải phóng.
Bị đòn bất ngờ, tuyến phòng ngự mạnh nhất ở vòng ngoài bị phá vỡ, địch ồ ạt tăng quân để chi viện, đối phó. Trong 5 ngày chúng đã đưa 3 liên đoàn biệt động quân, 2 lữ đoàn thuỷ quân lục chiến và 2 thiết đoàn kỵ binh ra Quảng Trị. Đồng thời Mỹ đưa 1 tàu sân bay và 1 tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến ở bờ biển Quảng Trị để chi viện tối đa phi pháo (Cả máy bay B52 và pháo hạm) để ngăn chặn sự tiến công của ta, cứu nguy cho quân ngụy. Tổng thống Mỹ R.Ních-xơn ra lệnh ném bom trở lại miền Bắc, chính phủ Mỹ đơn phương ngừng các phiên họp ở hội nghị Pari, vội vã điều động không quân, hải quân trở lại tham chiến ở Việt Nam.
Sau 2 ngày gấp rút chuẩn bị cơ sở vật chất và điều chỉnh lực lượng, chúng ta mở đợt tấn công thọc sâu vào trung tâm phòng ngự của địch. Đúng 15 giờ ngày 8-4-1972, các đơn vị pháo binh của ta bắn phá giữ dội cụm căn cứ Đông Hà - Ái Tử - La Vang; ngày 9/4/1972, trên hướng Đông Hà, Trung đoàn 24 (sư đoàn 324) được xe tăng yểm trợ đánh vào căn cứ Phượng Hoàng (Ái Tử); trên mặt trận cánh đông, 2 tiểu đoàn đặc công (19, 25) và tiểu đoàn 47 của Khu vực Vĩnh Linh vượt sông Cửa Việt, tiến công địch ở một số xã phía Bắc huyện Triệu Phong. Lực lượng bộ đội địa phương Quảng Trị đã khẩn trương luồn sâu xuống đồng bằng. Du kích, cán bộ chính trị, cơ sở quần chúng trong vùng địch tạm chiếm vừa hoạt động nhỏ lẻ, rộng khắp, vừa giúp bộ đội chủ lực chuẩn bị chiến trường tạo thế và lực cho đợt tấn công mới. Trước tình hình nguy cấp, địch điều động lực lượng dự bị chiến lược ra Huế. Mỹ dùng máy bay và pháo hạm đánh phá ác liệt hòng ngăn chặn lực lượng ta.
Sáng ngày 27-4-1972, trong lúc địch còn hoang mang, dao động, ta tiến công đợt 2 bằng các trận pháo kích lên các cứ điểm phòng ngự và co cụm của địch ở Đông Hà và La Vang. Sư đoàn 308 được xe tăng, pháo binh, tên lửa yểm trợ đã tấn công từ 3 hướng, tổng công kích vào cứ điểm Đông Hà; đến 11 giờ 30 phút ngày 28/4/1972 giải phóng thị xã Đông Hà, đánh sập cầu Lai Phước chặn đường chi viện của địch.
Ở hướng Đông, trung đoàn 27 và tiểu đoàn 66 bộ binh, thiết giáp cùng các lực lượng địa phương: Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 47 (Khu vực Vĩnh Linh), các đại đội địa phương Triệu Phong, ngoài ra Khu đội Vĩnh Linh tăng cường thêm Đại đội 11 bộ binh, Đại đội 18 pháo cối, Đại đội 14 Công binh phối hợp, ngày 28-2-1975 từ Cửa Việt tiến công, đột phá hệ thống phòng thủ của địch dọc vùng đồng bằng Triệu - Hải. Quân ta tiến đến đâu đều được nhân dân ở đó phấn khởi chào đón và phối hợp đấu tranh bằng sức mạnh áp đảo, bằng binh vận kêu gọi địch nhanh chống hạ vũ khí đầu hàng.
Sáng ngày 30/4/1972 sau đợt bắn phá hỏa điểm địch, các lực lượng đánh tràn qua sân bay, xông thẳng vào căn cứ Ái Tử chiếm kho xăng và sở chỉ huy sư đoàn 3. Đúng 14 giờ ngày 30-4 quân ta hoàn toàn làm chủ Ái Tử.
Sau khi chiếm được Đông Hà, Ái Tử các cánh quân chủ lực và lực lượng quân khu từ nhiều hướng tập trung tấn công giải phóng thị xã Quảng Trị. 11 giờ ngày 01/5/1972 địch bắt đầu rút khỏi thị xã Quảng Trị với ý định lui quân có tổ chức để bảo toàn lực lượng, nhưng không ngờ chúng đi đến đâu cũng bị đánh, chạy đâu cũng bị chặn. Cả đoạn đường gần 30 km từ thị xã Quảng Trị đến Mỹ Chánh trở thành “đại lộ kinh hoàng” đối với Mỹ - ngụy. Cùng lúc này nhân dân và du kích hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng nổi dậy tiến công, phối hợp cùng với bộ đội chủ lực truy kích, phá đồn bốt và hệ thống kìm kẹp của địch. Trung đoàn 9 (sư đoàn 304) tiến vào thị xã Quảng Trị, cắm lá cờ vinh quang của Tổ quốc lên toà hành chính Quảng Trị vào ngày 01/5/1972.
Như vậy, sau 2 đợt tấn công và nổi dậy mãnh liệt từ ngày 30/3/1972 đến ngày 01-5-1975, quân và dân ta đã hợp đồng chặt chẽ tấn công, quét sạch hệ thống phòng ngự kiên cố nhất và đập tan bộ máy kìm kẹp tàn bạo của Mỹ - Nguỵ từ sông Bến Hải đến Mỹ Chánh, từ Khe Sanh đến Cửa Việt, một vùng đất rộng lớn của quê hương được giải phóng.
Chiến dịch Xuân - Hè năm 1972 là một chiến dịch mang tầm vóc lịch sử, mãi mãi được ghi vào sử sách của dân tộc, thể hiện sự ngoan cường, anh dũng bất khuất, vượt qua gian khổ hy sinh của quân và dân Quảng Trị, của cả dân tộc Việt Nam. Chiến dịch Xuân Hè năm 1972 đã dập tan hệ thống kìm kẹp, đạp nát tuyến phòng thủ mạnh nhất quân sự của Mỹ ngụy ở miền Nam, tạo ra khí thế chiến lược quan trọng của cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi sau này. Thắng lợi to lớn đó thể hiện sức mạnh tiềm tàng của cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện của nền nghệ thuật quân sự Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.
II. Cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị

Đài tượng niệm các Anh hùng Liệt sỹ ở Thành Cổ
Đúng như nhận định của Tỉnh ủy Quảng Trị “Thất bại của địch ở Quảng Trị là một thất bại có ý nghĩa chiến lược. Do đó, chúng rất cay cú, chúng sẽ tìm hết mọi âm mưu thủ đoạn để phản kích nhằm phá hoại mọi thành quả mà ta đã đạt được, thậm chí chúng ta có thể đánh chiếm lại Quảng Trị”. Ngày 13-6-1972 Nguyễn Văn Thiệu quyết định mở cuộc hành quân “Tái chiếm lại Quảng Trị”. Về chính trị chúng đặt niềm hy vọng qua kết quả cuộc hành quân này sẽ lấy lại được tinh thần, xóa được tâm lý thất bại đang phát triển tràn lan trong quân đội ngụy, đồng thời gây sức ép với ta tại hội nghị Paris. Về quân sự, chúng hy vọng sẽ phá được cuộc tấn công của quân ta, giữ vững cố đô Huế và chiếm lại được tỉnh Quảng Trị - mảnh đất địa đầu chiến lược miền Nam, là đầu mối giao thông quan trọng nối liềnViệt Nam với Trung, Hạ Lào và đây là một trong những nỗ lực cuối cùng để cứu vãn chiến lược “ Việt Nam hóa chiến tranh” đang bị phá sản. Vì vậy, kẻ thù điên cuồng tập trung vào đây một lực lượng quân đội khổng lồ với nhiều chiến binh chủng, nhiều sư đoàn mạnh nhất của quân lực Việt Nam cộng hòa, trong đó có cả những sư đoàn thuộc lực lượng tổng dự bị quốc gia. Tập trung hỏa lực cả không quân và hải quân, chúng tổ chức thành 2 hướng tiến công, hòng tái chiếm thị xã Quảng Trị.
Ngày 14/6/1972, địch bắt đầu mở cuộc hành quân. Đây là cuộc hành quân cực kỳ đẫm máu và tàn bạo. Ba mươi vạn Nhân dân Quảng Trị lại phải đương đầu với thử thách mới, một thử thách vô cùng quyết liệt chưa từng có trong lịch sử chiến tranh.
Sau mấy ngày đổ bộ nghi binh, bắn phá dọn đường, sang sớm ngày 28/6/1972, từ tuyến xuất phát đông Mỹ Chánh, bộ binh và xe tăng địch mở cuộc phản kích mang mật danh “Lam Sơn 72”. Chúng kết hợp tiến công đường bộ (đường số 1 và 68) với đổ bộ đường không (nam sông Nhùng, Cổ Lũng) và đường biển (Thuận Đầu) từ nhiều hướng tiến đánh các chốt của ta trên đường tới thị xã. Với tham vọng và nỗ lực rất lớn của cả Mỹ lẫn quân đội Sài Gòn, mặt trận Quảng Trị đặc biệt là thị xã,Thành Cổ Quảng Trị trở thành mục tiêu trọng yếu nhất, nơi đọ sức quyết liệt giữa ta và địch.
Để chủ động đối phó cuộc phản kích tái chiếm Quảng Trị, ngay từ khi địch tập kết quân, ngày 25/6/1972, Bộ tư lệnh B5 lệnh cho Tỉnh đội Quảng Trị: Khẩn trương chuẩn bị chiến đấu, đánh bại cuộc phản kích lớn của địch nhằm tái chiếm lại toàn bộ tỉnh Quảng Trị trước mắt chiếm cho được thị xã. Bộ đội địa phương, du kích vừa phối hợp khẩn trương đưa 8 vạn dân của thị xã và 2 huyện Triệu Phong, Hải Lăng đến các nơi an toàn, vừa tổ chức nhiều đợt tập kích đánh địch ở nhiều hướng. Khắp các xã, phường phía Nam tỉnh, trên tuyến song Vĩnh Định, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích nung nấu lời thề (còn người còn trận địa, quyết tử bảo vệ quê hương), kiên cường chiến đấu không cho địch vào thị xã.
Bộ CHQS tỉnh Quảng Trị bố trí lực lượng tại khu vực thị xã với biên chế đầy đủ cho tiểu đoàn bộ binh 8, Tiểu đoàn bộ binh 3, Đại đội 32 của thị xã, cùng các đơn vị du kích tập trung để phối hợp chiến đấu với bộ đội chủ lực bảo vệ địa bàn. Trên hướng Đông, tiểu đoàn bộ binh 14, với nhiệm vụ chủ yếu là cùng bộ đội chủ lực chốt giữ khu vực Cửa Việt, đồng thời cùng với cán bộ cơ sở vậ động tổ chức sơ tán về phía sau, kể cả vùng địch tràn qua.Chuẩn bị mặt trận sau lưng địch, Tiểu đoàn 10 đặc công và các đại bộ đội địa phương cảu hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng cùng các đội du kích, bám trụ thôn xã sẵn sàng tập kích đánh vào hậu phương địch.
Sau ngày 28-6, với sự chi viện của không quân và hải quân Mỹ, các sư đoàn chủ lực ngụy bắt đầu ồ ạt tiến công sang bờ bắc sông Mỹ Chánh thực hiện cuộc hành quân “tái chiếm lãnh thổ”. Cuộc đánh trả đich phản công của quân và dân Quảng Trị cùng với bộ đội chủ lực trên mặt trận Quảng Trị quyết liệt ngay từ những ngày đầu. Sau 20 ngày tiến công vào thị xã, địch chỉ lấn thêm đến làng Trí Bưu, làng Cổ Thành và khu vực chợ Sãi. Mọi cuộc tấn công ồ ạt của quân địch đều bị chặn lại trước những chốt thép kiên cường của quân ta.Trong suốt thời gian từ ngày 04/7/1972 đến ngày 27/7/1972, địch đã nhiều lần tấn công vào trận địa của ta nhưng đều bị đánh trả quyết liệt. Tiểu đoàn 14 của tỉnh đội Quảng Trị phối hợp với du kích tại chỗ đánh địch ở tuyến các làng Cu Hoan, Trà Trì, Trà Lộc. Ngày 22/7/1972, địch đổ bộ bằng trực thăng xuống bắc sông Vĩnh Định đã bị LLVT tỉnh cùng với bộ đội chủ lực đánh thiệt hại nặng.
Vượt qua mọi khó khăn gian khổ, ác liệt và hy sinh, các chiến sỹ quân đội ta chiến đấu kiên cường, chỉ trong vòng từ ngày 28 - 6 đến 27 - 7 - 1972, các đơn vị chốt giữ thị xã, và Thành Cổ Quảng Trị đã đánh thiệt hại nặng lữ đoàn dù 2 và 2 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ, buộc sư đoàn dù phải lui về phía sau củng cố. Ở phía Nam tỉnh, trong vùng địch tràn qua, chiến tranh du kích lan rộng. Lực lượng vũ trang tỉnh mở những trận đánh táo bạo ở Hội Yên, Gia Đẳng (Tiểu đoàn 10), ở Trà Trì, Trà Lộc (Tiểu đoàn 14) đánh sập cầu Hội Yên, Ngô Xá Đông cầu Ba Bến trên tỉnh lộ 68 (Đại đội 24 Công binh). Du kích Triệu Sơn, Triệu Trạch, Triệu Thượng… tập kích bằng súng bộ binh, chông bẫy.
Bước sang tháng 8 cuộc đọ sức quyết liệtu giữa ta và địch ở khu vực thị xã và Thành Cổ ngày càng diễn ra ở mức độ cao hơn. Sau khi chiếm được một số địa bàn có lợi, địch chuyển sang tấn công vào thị xã. Với ý chí “còn người, còn trận địa” “K3 Tam Đảo còn, Thành Cổ Quảng Trị còn” cán bộ chiến sỹ Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 8 chốt giữ trong thành đã đánh bật nhiều đợt phản kích của địch. Để giữ được Thành Cổ chiến sỹ ta đã phải sử dụng chiến thuật phối hợp hỏa lực và vận động dùng pháo binh, xe tăng dẫn đầu đánh tan những vị trí địch yếu kém. Các dàn sùng phòng không cơ động ngăn không cho máy bay đến đúng tầm có thể yểm trợ, nhờ đó xe tăng ào tới chiếm các mục tiêu của địch. Nhiều trận đánh giữa ta và địch giành giật từng mãnh vườn, mỏm đồi, góc phố diễn ra hết sức quyết liệt.
Quân ngụy, ngoài máy bay chiến thuật chiến lược oanh tạc theo yêu cầu của bộ binh tiền duyên, Mỹ còn cho pháo hạm, pháo mặt đất tầm xa bắn tới 20.000 viên đạn suốt một ngày. Với chiến thuật “chậm chắc” mỗi khi gặp quân ta, địch dừng lại, gọi bom pháo đánh rồi mới tổ chức tiến công tiếp. Bởi vậy trên dải đất hẹp chỉ vài cây số vuông của thị xã và Thành Cổ Quảng Trị, suốt ngày bom đạn nổ rền rĩ, mặt đất như chảo lửa lớn. Song dù địch tập kích vào đây một lượng lớn, tinh nhuệ, dội hàng chục vạn tấn bom, các trận đại đang nghiêng ngả chao đảo vì bom đạn, nhưng trước sự chiến đấu kiên cường, tiến công diệt địch, người này ngã người khác thay, các lực lượng chiến đấu và phục vụ chiến đấu vẫn đứng vững trên trận địa.
Cuộc chiến đấu giữa quân và dân ta với quân địch trong những ngày tháng 9 trên mặt trận thị xã và Thành Cổ Quảng Trị bước vào giai đoạn quyết liệt nhất. Những cuộc chiến đấu khốc liệt để giành từng đoạn hào, căn hầm, gầm cầu, hố đất, cống rãnh… đã lên tới đỉnh điểm. Cả một vùng thị xã kéo dài xuống bãi biển trở thành một vùng bình địa đổ nát, hoang tàn. Nhiều điểm chốt, thước đất đã thấm máu của hành chục chiến sỹ hy sinh nằm lại… Mức độ khó khăn, quyết liệt không chỉ là “tọa độ lửa” dày đặc, ở những trận chiến các liệt, mà còn do thời tiết xấu, mưa, lũ lụt kéo dài làm cho ta gặp nhiều khó khăn, tổn thất. Số thương vong của các đơn vị chốt giữ thị xã và Thành Cổ ngày một nhiều thêm. Hỏa lực chi viện cho thị xã giảm dần, các ngã đường qua sông bị địch chặn đánh quyết liệt, lại bị nước lũ chia cắt gây rất nhiều thiếu thốn, trở ngại. Trước tình thế đó quân ta được lệnh rút lui sang sông Thạch Hãn hồi 18 giờ ngày 16/9/1972.
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị 81 ngày đêm (từ 28/6 đến 16/9/1972), gắn với dòng sông Thạch Hãn đầy bi tráng đi vào lịch sử như bản hùng ca bất tử, lay động lương tri loài người, trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, mãi mãi khắc ghi trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Đánh giá sự kiện này, đồng chí Lê Duẩn, Tổng Bí thư của Đảng ta nói: “Chúng ta chịu được không phải vì chúng ta gang thép, vì gang thép cũng chảy với bom đạn của chúng, mà chúng ta là con người, con người thực sự, con người Việt Nam với truyền thống 4000 năm đã giác ngộ sâu sắc trách nhiệm trước Tổ quốc, trước thời đại”.
Thắng lợi chiến dịch Xuân - Hè 1972 giải phóng Quảng Trị và cuộc chiến đấu 81 năm ngày đêm bảo vệ Thành Cổ có ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng, góp phần thực hiện tích cực quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng đó là: Phát triển thế tiến công chiến lược trên chiến trường miền Nam, đánh bại chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trong thế thua. Cùng với những chiến công oanh liệt của cả nước, nổi bật là trận “Điện Biên phủ trên không” trên bầu trời Hà Nội năm 1972, chiến thắng tại Quảng Trị đã làm thất bại mưu đồ đàm phán trên thế mạnh của Mỹ, buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pari, rút hết quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, làm thay đổi hẳn so sánh lực lượng giữa ta và địch, tạo bước ngoặt căn bản của cuộc kháng chiến.
Chiến dịch giải phóng tỉnh Quảng Trị và cuộc chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng là sự kiện trọng đại trên chặng đường 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc ta. Lần đầu tiên một tỉnh ở miền Nam được giải phóng, trở thành nơi đặt trụ sở của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, cổ vũ mạng mẽ quân, dân cả nước xốc tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đó cũng là sự kiện trọng đại trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ, quân và dân Quảng Trị trong 30 năm chiến tranh giải phóng nói chung, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói riêng.
Đối với quân giải phóng miền Nam, chiến dịch giải phóng tỉnh Quảng Trị thực sự là dấu mốc ghi nhận sự trưởng thành vượt bậc về tổ chức lực lượng, nghệ thuật tác chiến chiến dịch. Chỉ trong một thời gian ngắn, “pháo đài bất khả xâm phạm” như các tướng tá ngụy huyênh hoang tuyên bố đã bị san bằng. Đặc biệt, cuộc chiến đấu bảo vệ Thành Cổ với phương thức tác chiến phòng ngự, bảo vệ một mục tiêu có tính chất chiến lược trong thời điểm có tính chất nhạy cảm với điều kiện so sánh lực lượng giữa ta và địch chênh lệch nhau về cả số quân, trang bị vũ khí, phương tiện vật chất trong thời gian dài là thành công đặc biệt xuất sắc. Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng Tư lệnh quân đội nhân dân Việt nam đã gửi điện khen: “Cán bộ chiến sĩ ta rất dũng cảm, nhiệm vụ đã hoàn thành - Lịch sử chống giặc ngoại xâm, giữ Thành như thế , ông cha ta ít làm”.
Thời gian đã lùi xa, nhưng chiến tích oai hùng năm xưa trên chiến trường Quảng Trị vẫn còn vang vọng, chiến dịch giải phóng tỉnh Quảng trị và cuộc chiến đấu bảo vệ Thành Cổ mãi mãi giữ nguyên ý nghĩa chính trị, văn hóa, lịch sử to lớn và để lại những bài học quý báu cho quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay và mai sau.
III. Phát huy những thành tựu, huy động mọi nguồn lực đầu tư, tập trung khai thác hiệu quả tiềm năng lợi thế của tỉnh, đưa Quảng Trị phát triển nhanh và bền vững.
45 năm kể từ ngày quê hương giải phóng, hơn 30 năm cùng cả nước thực hiện đường lối đổi mới, Đảng bộ, quân và dân Quảng Trị đã gặt hái những kết quả quan trọng thật đáng tự hào. Với quyết tâm không chịu lùi bước trước khó khăn, thử thách, phát huy truyền thống anh hùng, Đảng bộ và nhân dân Quảng Trị đã kiên trì, bền bỉ vượt qua khó khăn, gian khổ, nổ lực phấn đấu đạt nhiều thành tựu, cùng cả nước thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới. Trong nhiệm kỳ qua, tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 7,4%/ năm. GDP bình quân đầu người đạt 36 triệu đồng. Thu ngân sách trên địa bàn tăng bình quân 16,6%/năm. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội không ngừng tăng lên. Cơ cấu nền kinh tế chuyển dịch đúng hướng. Sản lượng lương thực đạt trên 26 vạn tấn; toàn tỉnh có 31 xã đạt tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, chiếm 24,8% tổng số xã.
Sản xuất công nghiệp tiếp tục phát triển. Tốc độ tăng trưởng trong những năm gần đây đạt gần 9%. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tiếp tục đầu tư. Nhiều công trình giao thông, thủy lợi, hạ tầng xã hội được nâng cấp và xây dựng mới. Thương mại - dịch vụ phát triển ổn định.
Văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, an sinh xã hội được đảm bảo. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện. Bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới, đô thị phát triển. Quốc phòng, an ninh được tăng cường, chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.
Công tác xây dựng Đảng được tăng cường, hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở ngày càng được củng cố và phát triển. Nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, đồng thuận trong xã hội được củng cố.
Vui mừng trước những thành quả ấy, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Quảng Trị luôn ghi nhớ và chân thành biết ơn sự lãnh đạo sâu sát, kịp thời của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc và các Bộ, Ban ngành Trung ương; sự cổ vũ và giúp đỡ của các tỉnh, thành bạn, của đồng bào và chiến sĩ cả nước; của các tổ chức và bạn bè quốc tế; của những người con Quảng Trị sinh sống, làm ăn ở mọi miền đất nước và ở nước ngoài. Những thành quả đó chính là kết tinh của sự chung lưng đấu cật, đồng lòng đồng sức của Đảng bộ và các tầng lớp nhân dân tỉnh nhà.
Phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu vào công cuộc lao động sản xuất, Đảng bộ và nhân dân Quảng Trị nguyện đoàn kết, phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI với những nhiệm vụ trọng tâm về kinh tế- xã hội và xây Đảng theo hướng: Tập trung triển khai thực hiện các chương trình, dự án trọng điểm, động lực đã được xác định trong Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư, lựa chọn các nhà đầu tư chiến lược để triển khai các sự án công nghiệp quy mô lớn như công nghiệp năng lượng tại Khu kinh tế Đông Nam, Khu công nghiệp chung Việt Nam - Singapore... nhằm tạo bước đột phá cho nền kinh tế tỉnh nhà.
Phát triển hài hòa giữa các vùng đô thị và nông thôn, cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất bền vững, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, triển khai Bộ sản phẩm chủ lực có lợi thế cạnh tranh.
Quan tâm xây dựng văn hóa con người Quảng Trị nhằm khơi dậy, phát huy những phẩm chất truyền thống tốt đẹp của người Quảng Trị đáp ứng thời kỳ hội nhập và phát triển.
Tiếp tục làm tốt công tác xóa đói, giảm nghèo, an sinh xã hội. Thực hiện tốt hơn nữa chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng; phát huy truyền thống đạo lý của dân tộc “Uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” đẩy mạnh sâu rộng phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đối tượng chính sách, người có công với đất nước.
Làm tốt công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị. Quyết tâm thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ gắn với việc thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cấp chính quyền, đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng đội ngũ cán bộ tinh thông về nghiệp vụ, vững vàng về bản lĩnh chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống.
Đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tăng cường công tác quốc phòng, an ninh, kiên quyết đấu tranh chống mọi thủ đoạn, âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, tích cực đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và các tệ nạn xã hội khác, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội.  
Kỷ niệm 45 năm Ngày giải phóng tỉnh Quảng Trị và sự kiện 81 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thành Cổ là dịp để chúng ta ôn lại chặng đường vẻ vang hào hùng của dân tộc ta và của tỉnh Quảng Trị, truyền tiếp cho thế hệ mai sau truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, kiên cường trong chiến đấu, cần cù sáng tạo trong lao động, học tập để biến niềm tự hào đó thành sức mạnh, thành hành động của mỗi tổ chức Đảng, mỗi cán bộ Đảng viên và nhân dân trong tỉnh, tập trung thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, đưa Quảng Trị phát triển nhanh và bền vững trên con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập quốc tế vì mục tiêu: “dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
 
 

Nguồn tin: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Trị

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê truy cập
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây