Liên đoàn Lao động tỉnh Quảng Trị

http://congdoan.quangtri.gov.vn


Ảnh hưởng của truyền thống quê hương, gia đình đối với việc hình thành nhân cách đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn

Hướng tới kỷ niệm 110 năm ngày sinh Tổng Bí thư Lê Duẩn 7/4 (1907-2017), Website Công đoàn Quảng Trị trân trọng giới thiệu bài viết của đồng chí Hồ Thị Thu Hằng, UVTVTU, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Trị về ảnh hưởng của truyền thống quê hương, gia đình đối với việc hình thành nhân cách đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn
Đua thuyền kỷ niệm ngày lễ lớn
Quảng Trị nằm giữa khúc ruột miền Trung, lưng tựa vào dãy Trường Sơn, nhìn ra Biển Đông. Từ xa xưa, Quảng Trị được biết đến là một vùng đất giàu truyền thống yêu nước, cách mạng, sâu nặng nghĩa tình và rất mực thủy chung, son sắt. Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, mảnh đất này đã sinh thành và nuôi dưỡng nhiều người con ưu tú, tài hoa mà dù ở đâu, cương vị nào cùng đều một lòng, một dạ vì Tổ quốc, vì nhân dân, góp phần làm rạng danh non sông đất nước, tô thắm thêm truyền thống tốt đẹp của quê hương.
Đồng chí Lê Duẩn sinh thành trong một gia đình lao động ở thôn Bích La Đông, xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong - vùng đất giàu truyền thống của quê hương Quảng Trị. Lớn lên trong cảnh nước mất, nhà tan, chứng kiến các phong trào đấu tranh của nhân dân quê hương lần lượt bị kẻ thù đàn áp khốc liệt, cuộc sống lầm than, cơ cực của nhân dân trước sự chà đạp tàn bạo của thực dân Pháp và phong kiến tay sai, đồng chí đã sớm nung nấu ý chí, khát vọng giải phóng dân tộc và nhân dân khỏi gông xiềng nô lệ.
Từ một thanh niên giàu lòng yêu nước, mang nhiều hoài bão và khát vọng lớn lao, như một lẽ tự nhiên, đồng chí đã đến với lý tưởng cách mạng, sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh, hiến dâng cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Là nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng, người học trò xuất sắc, gần gũi và tin cậy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người con trung thành vô hạn với Tổ quốc, gần 60 năm hoạt động sôi nổi và phong phú, cuộc đời đồng chí là bản hùng ca bất tử, biểu tượng sáng ngời về nhân cách, tài năng và trí tuệ Việt Nam; là kết tinh những truyền thống quý báu của quê hương Quảng Trị, dòng họ và gia đình.
Truyền thống yêu nước, cách mạng của quê hương đã khơi dậy, nuôi dưỡng lòng yêu nước vô hạn ở đồng chí Lê Duẩn
Từ xa xưa, Quảng Trị đã là nơi hun đúc lên phong trào cách mạng sôi nổi của miền Trung và của cả nước. Dưới ách thống trị của phong kiến phương Bắc ngót 1.000 năm, các thế hệ người Quảng Trị đã liên tục nổi dậy đấu tranh để giành lại nền độc lập, tự chủ. Thời phong kiến, nhân dân Quảng Trị không tiếc máu xương, sẵn sàng cầm vũ khí đứng lên lập nhiều chiến công xuất sắc, góp phần giữ vững nền độc lập, tự do của dân tộc.
Thực dân Pháp xâm lược nước ta, thanh niên, trai tráng Quảng Trị sôi sục ý chí, gia nhập nghĩa binh, cùng quan lại, sĩ phu yêu nước chống Pháp. Nhiều con cháu của tộc họ Lê Văn cùng đông đảo nhân dân Quảng Trị theo chân các sĩ phu, văn thân lên vùng Cùa (Cam Lộ) tham gia xây dựng kinh đô dã chiến Tân Sở, nhất tề đứng lên theo hịch Cần Vương của vua Hàm Nghi, chiến đấu quyết liệt với quân thù. Tuy thất bại nhưng Tân Sở và phong trào Cần Vương trên đất Quảng Trị là niềm nuối tiếc khôn nguôi, nuôi dưỡng truyền thống yêu nước nồng nàn trong các tầng lớp nhân dân. Đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước ở Quảng Trị tiếp tục phát triển rầm rộ, tạo “mảnh đất màu mỡ” để dẫn đến sự ra đời và ảnh hưởng ngày càng lớn của chi bộ Việt Nam Cách mạng thanh niên - Tổ chức tiền thân của  Đảng bộ tỉnh.
Quê hương anh hùng đã khơi nguồn, nuôi dưỡng và bồi đắp lòng yêu nước của đồng chí Lê Duẩn từ thuở bé: “Năm lên 9 - 10 tuổi cậu bé Nhuận (tên của đồng chí Lê Duẩn lúc nhỏ) may mắn được cha cho ngồi hầu nước trong các cuộc đàm đạo của các cụ cao tuổi trong làng. Nhuận được nghe kể chuyện về ông Đề Núc (làng Linh Yên, xã Triệu Trạch) với khẩu hiệu “Bình Tây” đã lôi kéo được đông đảo nhân dân nổi dậy đấu tranh chống Pháp, đánh dấu sự phát triển đỉnh cao của phong trào văn thân ở Quảng Trị, chuyện vua Duy Tân chống Pháp bị đi đày; vua Hàm Nghi ra Tân Sở hạ chiếu Cần Vương kêu gọi kháng chiến; chuyện những “quốc sự phạm” ở nhà đày Lao Bảo nổi dậy... đã để lại nhiều ấn tượng trong lòng cậu thời niên thiếu. Cậu hy vọng một ngày nào đó sẽ đi đánh Tây cứu nước, cứu dân”.
Noi gương bao lớp cha anh đi trước của quê hương Quảng Trị anh hùng, đồng chí Lê Duẩn đã sớm dấn thân vào con đường đấu tranh, cách mạng để cứu nước, cứu dân.
Năm 1925, khi còn là học sinh ở trường Quốc học, đồng chí đã hòa mình vào không khí đấu tranh sôi nổi của nhân dân tại Huế đòi giảm án tử hình cho nhà yêu nước Phan Bội Châu. Cũng trong năm này, đồng chí quyết định tạm gác sự nghiệp học hành, rời quê hương để thực hiện hoài bão của một người thanh niên yêu nước. Năm 1926, đồng chí làm nhân viên hỏa xa Đà Nẵng; hàng ngày, hàng giờ chứng kiến sự ngang ngược, áp bức, bóc lột tàn bạo của thực dân Pháp đối những người lao động làm thuê càng nung nấu thêm lòng căm phẫn và quyết tâm “đánh Tây” của đồng chí. Thời gian này, vừa làm việc, đồng chí vừa tiếp xúc và giác ngộ tinh thần yêu nước cho nhiều thanh niên, trí thức.
Năm 1928, đồng chí rời Đà Nẵng ra Hà Nội làm nhân viên thư ký Đềpô thuộc Sở Hỏa xa Đông Dương. Cuối năm 1928, đồng chí chính thức gia nhập tổ chức Tân Việt Cách mạng Đảng. Nhờ tiếp cận với nhiều tài liệu của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên như “Đường cách mệnh”, “Báo Thanh niên” nên đồng chí đã lý giải được nhiều trăn trở và tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm. Năm 1929, đồng chí gia nhập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, được phân công công tác vận động, tuyên truyền anh em công nhân ngành đường sắt. Với tinh thần, nhiệt huyết của tuổi trẻ, đồng chí đã gây dựng nhiều cơ sở và phát động đấu tranh trong giới thợ thuyền, thanh niên, bà con lao động, hòa mình vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Hà Nội.
Tháng 6-1930, đồng chí được đứng vào hàng ngũ của Đảng, tham gia sinh hoạt đảng tại Thành ủy Hà Nội. Từ một thanh niên giàu lòng yêu quê hương, đất nước, mang trong mình nỗi đau của những người nô lệ, đồng chí Lê Duẩn đã sớm trở thành một người chiến sĩ Cộng sản. Tháng 10-1930, đồng chí nhận nhiệm vụ làm Ủy viên Ban Tuyên huấn Xứ ủy Bắc Kỳ, chính thức bước vào con đường hoạt động cách mạng chuyên nghiệp.
Thời kỳ 1936 - 1939, trước sự thay đổi của tình hình, đồng chí Lê Duẩn đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo về phương thức đấu tranh cách mạng, nhạy bén trong chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, gắn vấn đề giai cấp với vấn đề dân tộc, nêu cao ngọn cờ dân chủ để tập hợp rộng rãi mọi giai tầng trong xã hội, kể cả giai cấp tư sản dân tộc, những thành phần dân chủ, những cá nhân có tư tưởng tiến bộ đứng về phía nhân dân chống lại bọn phản động thuộc địa và tay sai.
Tháng 11-1939, đồng chí Lê Duẩn cùng với đồng chí Nguyễn Văn Cừ chuẩn bị và chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ sáu (khóa I), đề ra đường lối mới, chủ trương thành lập Mặt trận phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, tập trung mũi nhọn vào bọn đế quốc và tay sai, chuyển hoạt động của Đảng và các đoàn thể cách mạng vào bí mật, chuẩn bị điều kiện trực tiếp đánh đổ thực dân phát xít, giành độc lập cho toàn cõi Đông Dương. Đây là sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược đúng đắn, sáng suốt có ý nghĩa quan trọng, khởi động phong trào cứu nước thời kỳ 1939 - 1945.
Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp xâm lược, đồng chí Lê Duẩn đã cùng với các đồng chí Phạm Hùng, Lê Đức Thọ và tập thể Xứ ủy Nam Bộ, sau đó với Trung ương Cục miền Nam giải quyết một loạt các vấn đề cơ bản và cấp bách lúc bấy giờ như: Thiết lập sự lãnh đạo toàn diện của Đảng bộ, thống nhất các lực lượng vũ trang, phát triển chiến tranh du kích và đưa cuộc kháng chiến phát triển sâu rộng, củng cố liên minh công nông, tăng cường mặt trận dân tộc, tập hợp mọi tầng lớp nhân dân cả nông thôn và thành thị đứng lên cứu nước; phát huy vai trò tích cực của nhân sĩ, trí thức, thu phục và lôi kéo các tôn giáo...
Đặc biệt, đồng chí đã kiên quyết lãnh đạo thực hiện đem ruộng đất tịch thu của thực dân Pháp, Việt gian, ruộng đất vắng chủ và của địa chủ yêu nước hiến cho kháng chiến để chia cấp cho nông dân nghèo, mang lại quyền lợi thiết thực cho nông dân trong vùng ta kiểm soát. Nhờ đó, lực lượng kháng chiến ngày càng tăng cường, chiến tranh du kích ngày càng phát triển, tạo nền tảng để quân và dân Nam Bộ lập nhiều chiến công xuất sắc, cùng với cả nước đập tan âm mưu xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ.
Trong kháng chiến chống Mỹ, trên những cương vị và trọng trách to lớn trước Đảng, nhân dân và dân tộc, đồng chí Lê Duẩn đã cùng với Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa không ngừng lớn mạnh, làm hậu phương vững chắc cho cách mạng cả nước; đồng thời tiến hành cuộc chiến tranh yêu nước vĩ đại, giành thắng lợi trọn vẹn cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.
Suốt 21 năm trường kỳ kháng chiến, trong mỗi quyết sách chiến lược đối nội cũng như đối ngoại, trong mỗi thắng lợi ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, trên chiến trường cũng như trên bàn đàm phán, trong giai đoạn mở đầu cũng như trong giai đoạn kết thúc chiến tranh, ở đâu cũng có dấu ấn tư duy độc lập, trí tuệ sáng tạo và nghị lực phi thường của đồng chí Lê Duẩn.
Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, trước những dấu hiệu có thể chuyển biến bất lợi của tình hình thế giới, trên cương vị là Tổng Bí thư của Đảng, với tấm lòng vì nước, vì dân, đồng chí đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm xác định và hoàn chỉnh đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, trong điều kiện một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội.
Đường lối ấy thể hiện những tư tưởng lớn của đồng chí về giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; về nắm vững chuyên chính vô sản và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động; về tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt, coi trọng công nghiệp hóa; về xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa mới và con người mới xã hội chủ nghĩa, về cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà nước quản lý... Qua đó, từng bước lãnh đạo đất nước vượt qua khó khăn, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Có thể nói, hấp thu truyền thống yêu nước, cách mạng từ lớp lớp người con của quê hương, dòng họ, gia đình, đồng chí Lê Duẩn đã vượt lên tất cả những chông gai, thử thách và từng bước trưởng thành qua thực tiễn cách mạng. Trong mỗi nhiệm vụ, trên những chặng đường đấu tranh, lòng yêu nước của đồng chí càng được thử thách, tôi luyện và tỏa sáng rực rỡ; đó là thái độ đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù; tinh thần sẵn sàng hy sinh cả tính mạng để kề vai sát cánh, lãnh đạo quân, dân Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp và những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ; là ý chí, quyết tâm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước; là khát khao xây dựng Việt Nam no ấm, thanh bình, vươn tầm thế giới.       
Truyền thống kiên cường, bất khuất, thủy chung của con người Quảng Trị là nền tảng hình thành nên tinh thần cách mạng kiên trung, bất khuất của đồng chí Lê Duẩn.
Trong lịch sử tồn tại và phát triển, Quảng Trị là tiêu điểm ác liệt nhất của các cuộc kháng chiến chống xâm lăng, là ranh giới của các cuộc chia cắt Bắc - Nam. Ít có mảnh đất nào phải chịu nhiều xáo trộn, biến động, chia cắt và là chiến trường khốc liệt của chiến tranh như Quảng Trị. Hoàn cảnh sống khắc nghiệt đã tôi luyện nên con người Quảng Trị ý chí kiên cường, bất khuất, lòng dũng cảm, bản lĩnh không bao giờ chịu khuất phục trước mọi kẻ thù xâm lược, không bao giờ lùi bước trước khó khăn để vươn lên làm chủ cuộc sống.
Có thể nói “...một truyền thống kiên trung, bất khuất, một cốt cách cần cù, bao dung, một năng lực thông minh, cần mẫn...”  của người Quảng Trị đã kết tinh ở người con ưu tú của quê hương - đồng chí Lê Duẩn. Điều đó được thể hiện rõ qua 2 lần đồng chí bị bắt, với hơn 10 năm bị địch cầm tù. Lần thứ nhất, vào năm 1931, khi bị giam giữ tại nhà tù Hỏa Lò, mặc dù thực dân Pháp và tay sai dùng đủ mọi cách để mua chuộc, lôi kéo, dụ dỗ nhưng đồng chí không một chút nao núng, lay chuyển; bọn mật thám dùng roi da lõi đồng, roi cá sấu đánh tới tấp khiến “mình mẩy sưng vù, các khớp xương đau nhức tột độ”, nhưng chúng chỉ nhận được ở đồng chí “sự im lặng”.
Thực dân Pháp kết án đồng chí 20 năm tù cầm cố và lưu đày đến các nhà tù Sơn La, Côn Đảo, vượt lên mọi cực hình, đồng chí luôn bền gan, quyết chí, giữ vững ý chí, lập trường và niềm tin cách mạng; cùng với đồng chí, đồng đội nêu cao khí phách trung dũng, kiên cường đấu tranh không khoan nhượng, giữ trọn khí tiết của người cộng sản chân chính.
Lần thứ hai, vào cuối năm 1940, địch bắt và đày đồng chí ra nhà tù Côn Đảo. Tại “Địa ngục trần gian” này, chúng “đối xử với tù nhân hà khắc không sao kể hết được”, phần đông tù nhân đều chết dần, chết mòn vì những đợt đòn tra tấn, vì bệnh tật, kiệt sức, có ngày đến vài chục cái chết thương tâm; bản thân đồng chí bị chúng tra khảo đến “chết đi sống lại” nhiều lần; nhưng kẻ thù càng hung bạo, đồng chí càng trở nên mạnh mẽ, kiên cường, bất khuất để chiến đấu và chiến thắng sự tàn bạo của của chúng.
Tinh thần cách mạng kiên trung, bất khuất của đồng chí Lê Duẩn còn được thử thách và chứng minh qua thực tiễn cách mạng. Năm 1936, sau khi được trả tự do, đồng chí đã vượt qua sự truy lùng ráo riết của địch, lăn lộn, chỉ đạo phong trào đấu tranh, gây dựng cơ sở cách mạng trong quần chúng; kịp thời chỉ đạo phong trào dân chủ phát triển mạnh mẽ cả bề rộng lẫn chiều sâu, tiến hành cuộc tập dượt lớn nhằm tiến tới cao trào cứu nước 1939 - 1945, giành chính quyền về tay nhân dân trong Cách mạng tháng Tám.
Trong những năm tháng kề vai, sát cánh cùng với nhân dân Nam Bộ kháng chiến chống Pháp xâm lược, đồng chí đã đối mặt và vượt qua mọi hiểm nguy, gian khổ, lãnh đạo quân và dân Nam Bộ kháng chiến đến ngày thắng lợi. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, phẩm chất kiên trung, bất khuất của đồng chí được biểu hiện rõ nét nhất ở tư tưởng cách mạng tiến công, bản lĩnh, ý chí sắt đá, quyết tâm cao nhất đánh Mỹ và thắng Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Năm 1965, trong cuộc họp với ba lãnh đạo Liên Xô là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Brêgiơnep, Chủ tịch Xô Viết tối cao Podgonưi, Thủ tướng Koxưgin về tình hình cuộc chiến với Mỹ của Việt Nam, Podgonưi đã phản đối gay gắt việc Việt Nam tiến hành chiến tranh vũ trang để thống nhất đất nước vì “Mỹ rất mạnh, Việt Nam không thể thắng Mỹ”, đồng chỉ đã trả lời kiên quyết: “Nhất định chúng tôi phải đánh Mỹ và thắng Mỹ. Nếu các đồng chí ủng hộ, có thể chúng tôi chỉ chết có một triệu người. Nếu các đồng chí không ủng hộ, chúng tôi có thể hi sinh nhiều người hơn nữa. Nhưng chúng tôi phải thực hiện được mục tiêu cuối cùng là thống nhất đất nước”.
Năm 1975, trước thời khắc quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, với nhãn quan chính trị, quân sự sắc bén, đồng chí đã tỏ rõ ý chí, quyết tâm của cả dân tộc: “Trong tình hình ta đánh một đòn lớn, địch đảo lộn, ta phải đánh tan rã, đánh như chẻ tre. Do đó các chiến trường tích cực thực hiện kế hoạch đánh địch và xây dựng lực lượng ta về mọi mặt, chuẩn bị khẩn trương về chiến lược...
Việc tạo ra thời cơ và chớp thời cơ lúc này là rất cần thiết. Bất cứ tình huống nào cũng không được để lỡ thời cơ chiến lược”. Với quyết tâm, ý chí sắt đá đó, cả dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã làm nên đại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Sau ngày đất nước thống nhất, với bản lĩnh, ý chí và sự kiên cường của nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng, đồng chí đã có những quyết sách sáng suốt để cùng với Đảng lãnh đạo đất nước vượt lên những thời điểm khó khăn nhất, vững bước đi lên trên con đường xã hội chủ nghĩa.
Truyền thống lao động cần cù, trọng tình, trọng nghĩa của quê hương, gia đình đã hình thành nên con người yêu lao động, trọng tình thương và lẽ phải của đồng chí Lê Duẩn.
Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, cuộc sống luôn vất vả, gian truân đã làm cho con người Quảng Trị thêm cần cù, chịu thương, chịu khó trong lao động sản xuất để làm chủ cuộc sống và chinh phục tự nhiên. Trong các cuộc di dân dưới các triều đại phong kiến, các ông tổ người Việt Quảng Trị thuộc nhiều dòng họ bằng sự cần cù, chịu thương, chịu khó đã dày công khai sơn phá thạch, gây dựng cuộc sống, để lại cho con cháu đời sau những vùng đất phì nhiêu, màu mỡ. Các thế hệ người Quảng Trị cứ thế nối tiếp nhau phát huy truyền thống lao động của cha ông và biến nó trở thành nét đẹp, cốt cách của chính con người Quảng Trị.
Cùng với lao động, người Quảng Trị có truyền thống trọng chính nghĩa, giàu tình thương yêu, luôn đoàn kết, đùm bọc nhau những lúc khó khăn, hoạn nạn. Làng Bích La Đông - quê hương của đồng chí Lê Duẩn là một làng có lịch sử lâu đời. Tộc họ Lê Văn là một trong 15 tộc họ đồng khai khẩn đã góp phần không nhỏ vào truyền thống tốt đẹp trong lịch sử dựng nghiệp ở làng ngay từ buổi ban đầu. Gần 5 thế kỷ từ ngày khai hoang, lập làng, vừa chống chọi với thiên tai, địch họa, vừa tạo dựng cơ đồ, người dân Bích La nói chung, các thế hệ con cháu trong tộc họ Lê Văn nói riêng đã vun đắp nên nhiều truyền thống được lưu giữ và phát triển từ đời này sang đời khác như: truyền thống lao động cần cù, chịu thương, chịu khó; trọng nghĩa, trọng tình; đoàn kết, tương thân, tương ái...
Nền tảng của truyền thống đó chính là cái tâm, cái đức được các thế hệ nối tiếp giữ gìn và phát triển. Các vị tiền nhân của tộc họ Lê Văn khi đỗ đạt ra làm quan đều nổi tiếng là những người thương yêu dân chúng, làm gương cho các thế hệ con cháu đời sau học tập.
Làng Hậu Kiên - nơi nuôi dưỡng đồng chí từ thuở bé, mặc dù dân cư là người tứ xứ tập hợp về làm ăn sinh sống, nhưng rất mực thương yêu, đùm bọc nhau. Nét nổi bật của con người Hậu Kiên là sống thủy chung, tình nghĩa. Đồng chí Lê Duẩn lớn lên trong sự thương yêu, đùm bọc của bà con lối xóm. Thân phụ đồng chí là ông Lê Văn Hiệp, từng học chữ nho và đỗ khóa sinh nhưng ông không theo con đường quan nghiệp mà mở xưởng mộc nhỏ và cửa hàng bán đồ gỗ ở chợ Sãi (làng Hậu Kiên). Ông Hiệp là một người cha luôn chăm lo cho cuộc sống của gia đình, chăm chỉ, chịu khó làm ăn, quan tâm giáo dục con cái. Bởi vậy, đồng chí sớm ý thức ý nghĩa và giá trị của lao động đối với mỗi một con người.
Mẹ đồng chí là một người đàn bà mẫu mực, hiền lành, phúc hậu, hay giúp đỡ người nghèo và tình thương con vô hạn. Bà thường kể về cuộc sống khổ cực của ông bà ngoại, của bà con xóm làng; cảnh người dì ruột của đồng chí đã lớn mà không có quần áo che kín thân, cảnh gia đình nhiều ngày mà không có bát cơm lót bụng...
Mỗi lần nghe mẹ kể như thế, đồng chí thường gục mặt vào lòng mẹ chan hòa dòng lệ. Tình thương và cách giáo dục con của người mẹ đã dần dần bồi đắp nên ở đồng chí tình yêu thương đối với con người, nhất là những người thống khổ.
Được nuôi dưỡng bởi truyền thống quê hương, làng xóm, dòng họ, gia đình nên ngay từ thuở thiếu niên cho đến khi trưởng thành và sau này giữ những chức vụ chủ chốt của Đảng, đồng chí đã tỏ rõ là một người yêu lao động, trọng chính nghĩa và giàu tình thương.
Từ những ngày đầu rời đất quê hương đi làm cách mạng, hành trang mà đồng chí mang theo chỉ có lý tưởng của người thanh niên yêu nước, thương nòi; đồng chí đã tự nuôi sống bản thân để thực hiện hoài bão cứu nước bằng lao động chân chính. Sau này, khi đã bước vào con đường hoạt động cách mạng chuyên nghiệp, đồng chí là một tấm gương về lao động và không ngừng lao động, sáng tạo.
Trong những năm tháng chịu cảnh tù đày dưới hệ thống nhà tù đế quốc, đồng chí đã vượt qua sự tra tấn, khủng bố khốc liệt của kẻ thù, không ngừng lao động, sáng tạo để “biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng”, tự học, tự rèn luyện để trở thành một người cộng sản có trí tuệ lớn, tài năng lớn. Trong thời gian hoạt động ở Nam Bộ, đồng chí là một “ngọn đèn hai trăm nến”, luôn “cháy hết công suất” để lãnh đạo cách mạng miền Nam.
Đặc biệt, với khả năng lao động, sáng tạo phi thường, đồng chí đã dự thảo “Đề cương cách mạng miền Nam” là bước khởi đầu để hình thành Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 lịch sử - Nghị quyết tạo ra bước ngoặt quan trọng của cách mạng miền Nam, góp phần đưa miền Nam liên tiếp giành những thắng lợi to lớn. Trong kháng chiến chống Mỹ, với cương vị là lãnh đạo chủ chốt của Đảng, đồng chí đã làm việc không ngừng để cùng với Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị phát huy sức mạnh của dân tộc và thời đại, lãnh đạo nhân dân làm nên đại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Sau ngày giải phóng, đất nước phải đối mặt với vô vàn những khó khăn, thử thách, là người lãnh đạo cao nhất của Đảng, đồng chí luôn trăn trở: “Bây giờ ta có cả đất nước trong tay, không làm cho dân ta đỡ nghèo, đỡ khổ, không làm cho đất nước ta, dân tộc ta bứt lên không thua kém với bất cứ nước nào là ta có tội với tổ tiên, với xương máu của biết bao nhiêu người đã đổ xuống”; và đồng chí lao động cho đến hơi thở cuối cùng để lãnh đạo đất nước vững bước đi lên. Với đồng chí Lê Duẩn: “Có lao động mới có con người”. Đó là chân lý của cuộc sống.
Không chỉ là con người của lao động, đồng chí Lê Duẩn còn là con người của “tình thương và lẽ phải”. Thuở bé, tình thương của đồng chí khởi nguồn từ tìm cảm hiếu thảo với cha mẹ, yêu thương gia đình, bà con lối xóm. Nhà thiếu gạo, cơm thường thổi ít, “cả nhà nhường cho cậu Ba nhưng không bao giờ cậu chịu ăn riêng”. Đồng chí rất thương chị, thương em: “Đối với em gái, cậu là một người anh mẫu mực. Vì nhà nghèo chỉ có một mình cậu được cắp sách đến trường, thương em gái không được học, cậu dành nhiều thời gian dạy em học ở nhà”. Cạnh nhà đồng chí có bà cụ Mỹ sống cô đơn, thỉnh thoảng đồng chí vẫn bưng biếu bà tô canh, bát cơm và không quên bớt phần khoai độn; đôi lúc, còn xúc gạo ở nhà sang cho bà cụ.
Những năm tháng hoạt động cách mạng, tình thương của đồng chí được nâng lên thành tình cảm sâu nặng với đồng chí, đồng đội, đồng bào; là tình cảm, trách nhiệm thiêng liêng đối với Tổ quốc, nhân dân: “Ngày 31-7-1932, thực dân Pháp đưa Nguyễn Đức Cảnh và Hồ Ngọc Lân ra chém ở Hải Phòng. Suốt cả ngày ấy, đồng chí Lê Duẩn bỏ cơm. Biết trước đồng chí Nguyễn Đức Cảnh sẽ phải hy sinh, nhưng sự ra đi của người đồng chí lớp đàn anh ấy đã để lại cho đồng chí những khoảng trồng vắng không thể bù đắp được”.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, đồng chí nhận nhiệm vụ trở về Nam Bộ, dọc đường từ Quảng Ngãi vào Bình Định, đồng bào phấn khởi chào đón, nhiệt liệt hoan hô. Nhiều người giơ hai ngón tay như muốn nói sau hai năm nữa nước nhà sẽ thống nhất, đồng chí trào nước mắt, không sao cầm lòng được, bởi đồng chí hiểu rõ dã tâm độc ác của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, chúng sẽ thẳng tay đàn áp khủng bố, dìm đồng bào ta trong bể máu và quyết chia cắt lâu dài đất nước ta. Đồng bào ta rồi đây sẽ phải tiếp tục sống trong cảnh kìm kẹp dã man, khủng bố tàn bạo của kẻ thù nhiều năm nữa...
Trong kháng chiến chống Mỹ, “tình thương và lẽ phải” của đồng chí được cụ thể hóa thành khát vọng và quyết tâm cao nhất để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, để đồng bào đỡ mất mát, đỡ khổ đau.
Sau ngày đất nước thống nhất, “tình thương và lẽ phải” của đồng chí chính là mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc thực sự cho nhân dân. Đồng chí nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “...trước hết phải lo cho dân có cơm ăn, áo mặc, con em phải được đến trường, phải lo cho tất cả mọi người không phân biệt “bên này bên kia” vì ai cũng là công dân của nước Việt”.
Trong rất nhiều bài viết, bài nói chuyện, đồng chí thường nhấn mạnh: “Sức mạnh của người cách mạng là ở lý tưởng của mình, đồng thời còn ở khát vọng về tình thương đối với đồng bào mình, nghĩa là yêu nước phải gắn liền với thương dân, phải có tình thương và trách nhiệm đối với dân”.
Năm 1978, Trung Quốc thông báo không bán bông cho chúng ta nữa nên sản lượng bông sẽ giảm đi một nửa, do vậy Chính phủ chỉ lo được cho dân “hai năm một bộ quần áo”, đồng chí Lê Duẩn kiên quyết chỉ đạo các đồng chí trong Chính phủ “phải lo đủ cho người dân mỗi năm một bộ áo quần mới”. Đó không chỉ là trách nhiệm mà còn là tình thương của người đứng đầu đất nước đối với nhân dân.
Ở một khía cạnh khác, “tình thương và lẽ phải” đối với đồng chí còn là trân trọng nghĩa tình, sống có trước có sau. Trong tình cảm của mình, đồng chí luôn dành cho đồng bào miền Nam lòng biết ơn sâu sắc. Sau ngày chiến thắng, đồng chí nhiều lần trở lại miền Nam, thăm các gia đình cơ sở ở Cà Mau, Rạch Giá, Bến Tre... Đồng chí luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên miền Nam phải chăm lo cho cuộc sống của bà con, nhất là những gia đình dám xả thân vì cách mạng: “Lúc đó ai dám nuôi giấu cán bộ cách mạng là chấp nhận một sự hy sinh to lớn nếu bị địch phát hiện. Bây giờ thành công rồi, chúng ta phải nhớ ơn những gia đình dám sống chết với cách mạng”.
Với quê hương Quảng Trị, đồng chí luôn dành những tình cảm sâu nặng: “Đối với tất cả chúng ta, quê hương biết bao tình sâu nghĩa nặng! Riêng tôi, ngoài công việc chung của cả nước, vẫn thường nghĩ đến tỉnh nhà và tự hỏi không biết đồng bào trong tỉnh từ ngày giải phóng đến nay sống như thế nào...”.
Năm 1976, về thăm quê hương Quảng Trị sau nhiều năm xa cách, đồng chí xúc động, không cầm được nước mắt trước cảnh nhà cửa đổ nát, ruộng vườn khô cháy, làng mạc bị chiến tranh tàn phá tiêu điều... Đồng chí cảm thấy đau buồn trước những hy sinh, mất mát của bà con trong kháng chiến, nay đã được giải phóng mà vẫn chưa đủ cơm ăn, áo mặc. Đến những giây phút cuối cùng trên giường bệnh, đồng chí vẫn là một con người trung thực, sáng suốt, đầy tình cảm, luôn hướng về lẽ phải, tình thương và trách nhiệm với dân tộc, nhân dân.
Quảng Trị - vùng đất “địa linh nhân kiệt” sản sinh, nuôi dưỡng đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn - nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng và cách mạng Việt Nam, người học trò lỗi lạc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại – người con vinh quang của đất nước. Bằng tài năng, trí tuệ và nhân cách cao đẹp của mình, đồng chí đã làm rạng danh quê hương Quảng Trị và góp phần nâng tầm vị thế của đất nước Việt Nam trên trường quốc tế.
Năm tháng sẽ đi qua nhưng những cống hiến của đồng chí cho đất nước, quê hương vẫn luôn sống mãi trong lòng dân tộc và mỗi một người con Việt Nam yêu nước. Tấm gương của đồng chí mãi tỏa sáng, nhắc nhở cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau phải không ngừng nỗ lực, phấn đấu, vươn lên xây dựng đất nước, quê hương ngày càng giàu mạnh, xứng đáng với truyền thống tốt đẹp của các thế hệ cha anh đi trước.
 

Nguồn tin: Báo Quảng Trị

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây